Ngày
nay trên phạm vi toàn cầu, môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm trầm trọng. Đó là
một trong những vấn đề toàn cầu của thế giới hiện nay; nó có tác động trực tiếp
đến mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong
đó có Việt Nam của chúng ta. Ô nhiễm môi trường đã đang và sẽ là một vấn đề hết
sức cấp bách, gây bức xúc trong cộng động quốc tế. Tình trạng ô nhiễm môi trường
sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra ngày càng
trầm trọng, đe doạ đến sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại,
phát triển của thế hệ hiện tại và tương lai. Để giải quyết vấn đề ô nhiễm môi
trường đòi hỏi phải có sự hợp tác của toàn nhân loại. Nếu có sự hiểu biết đúng đắn
về môi trường, chúng ta sẽ có giải pháp hợp lý giúp chúng ta bảo vệ môi trường
thế giới ngày càng xanh, sạch đẹp.
Trong
bài xã luận này, tôi sẽ cố gắng phân tích, tổng hợp từ những hiểu của mình để phần
nào nâng cao tinh thần bảo vệ môi trường đối với mọi người. Trước hết, tôi sẽ đề
cập về một số khái niệm cơ bản về môi trường, kế tiếp sẽ nêu lên thực trạng ô
nhiễm môi trường ở nước ta trên các phương diện: ô nhiễm môi trường đất, nước
và không khí. Đồng thời, phân tích một số nguyên nhân khách quan và nguyên nhân
chủ quan dẫn tới sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng như hiện nay. Tiếp theo tôi
sẽ nêu ra một số hậu quả mà ô nhiễm môi trường đem lại đối với đời sống con người
và môi trường sinh thái. Cuối cùng tôi xin đề xuất, luận chứng một hệ thống các
giải pháp nhằm ngăn chặn hiệu quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, hướng tới
cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường sống của chúng ta.
Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết
với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,
phát triển của con người và thiên nhiên. Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố
thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người,
nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi
sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước.
Môi
trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật. Môi trường là nơi
cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và
sinh vật trên trái đất. Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con
người. Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng
cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản
xuất, tiêu thụ, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người
thêm phong phú. Môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo
nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở,
các khu vực đô thị, công viên nhân tạo. Môi trường cần thiết cho sự sinh sống,
sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh
sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội. Môi trường là tất cả những gì có xung quanh
ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Theo
luật bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất
của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”. Trên thế giới, ô nhiễm môi trường là việc chuyển các chất
thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe
con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường, hay cũng có thể hiểu ô nhiễm môi trường
là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học... gây ảnh
hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác.
Nguyên
nhân gây ô nhiễm môi trường là do con người và cách quản lý của con người hoặc
do từ các thảm họa thiên nhiên (thiên tai) như núi lửa, lũ lụt, bão tố, sóng thần…
Các tác nhân chính ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng
(nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học
và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Đối
với nước ta, trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu
tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhìn nhận vấn đề còn hạn chế nên
chưa chú trọng đúng mức việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường. Tình
trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn
ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp. Từ đó, dẫn đến những hệ quả tiêu cực về
môi trường, đặc biệt là tình trạng ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày
càng nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế - xã hội, cuộc
sống sinh hoạt của con người. Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường trong thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay không chỉ là đòi hỏi cấp thiết
đối với các cấp quản lý, các doanh nghiệp, mà còn là trách nhiệm của hệ thống
chính trị và của toàn xã hội.
Về
ô nhiễm môi trường ở nước ta hiện nay, trước hết cần xác định đối tượng gây ô
nhiễm, đó chủ yếu là hoạt động sản xuất của các nhà máy, làng nghề và sinh hoạt
tại các đô thị lớn. Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chủ yếu là: ô nhiễm đất,
ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí. Trong ba loại ô nhiễm đó ở nước ta thì tình
trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, khu công nghiệp và làng nghề là
nghiêm trọng nhất, mức độ ô nhiễm vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.
Bên
cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị
lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm về nước thải,
rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn... Những năm gần đây, sự
mở rộng và phát triển của các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước
không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng. Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô
cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ
một biện pháp xử lý nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp. Theo thống kê của
cơ quan chức năng, mỗi ngày người dân ở các thành phố lớn thải ra hàng nghìn tấn
rác; các cơ sở sản xuất thải ra hàng trăm nghìn mét khối nước thải độc hại; các
phương tiện giao thông thải ra hàng trăm tấn bụi, khí độc.
Với
nhịp độ gia tăng dân số và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị
hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất
ngày càng bị suy thoái.
Trong
lĩnh vực nông nghiệp, ô nhiễm đất xuất phát từ việc lạm dụng nhiều hóa chất và
tập quán bón phân thiếu khoa học. Áp lực tăng dân số đòi hỏi nhu cầu tăng lương
thực, thực phẩm ngày càng tăng và phải tăng cường khai thác độ phì nhiêu của đất
bằng nhiều biện pháp như tăng cường sử dụng hóa chất đã làm cho đất nhanh chóng
bạc màu. Ngoài ra, các loại hóa chất bảo vệ thực vật thường là những hóa chất độc,
khả năng tồn lưu lâu trong đất, tác động vào môi trường đất, sau đó đến sản phẩm
nông nghiệp, đến động vật và người, theo kiểu tích tụ, ăn sâu và bào mòn. Do việc
sử dụng, bảo quản chưa đúng quy định nên đã gây ô nhiễm môi trường đất, nước,
không khí và nông sản gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.
Việc
đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa cũng là nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường
đất ở Việt Nam. Hiện nay nhiều nguồn nước thải ở các đô thị, khu công nghiệp
và các làng nghề tái chế kim loại, chứa các kim loại nặng độc hại như :Cd, As,
Cr, Cu, Zn, Ni, Pb và Hg. Một diện tích đáng kể đất nông nghiệp ven đô thị, khu
công nghiệp và làng nghề đã bị ô nhiễm kim loại nặng
Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung
do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho
con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, cho động vật nuôi và các loài hoang
dã.
Tình trạng ô nhiễm nước ở các đô thị thấy
rõ nhất là ở tại các thành phố lớn, nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý
tập trung mà trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận (sông, hồ, kênh, mương). Mặt khác, còn rất nhiều cơ sở sản xuất
không xử lý nước thải, phần lớn các bệnh viện và cơ sở y tế lớn chưa có hệ thống
xử lý nước thải; một lượng rác thải rắn lớn trong thành phố không thu gom hết
được… là những nguồn quan trọng gây ra ô nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm
trong các kênh, sụng, hồ ở các thành phố lớn là rất nặng.
Về
tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay
Việt Nam có gần 76% dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn
lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên
thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu
cơ và vi sinh vật ngày càng cao. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, số vi khuẩn Feca coliform trung bình biến đổi từ
1.500-3.500MNP/100ml ở các vùng ven sông Tiền và sông Hậu, tăng lên tới
3800-12.500MNP/100ML ở các kênh rạch tưới tiêu.
Trong
sản xuất nông nghiệp, do lạm dụng các loại hóa chất bảo vệ thực vật, các nguồn
nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm, ảnh hưởng lớn đến môi trường nước và sức
khoẻ nhân dân.
Do
nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt, thiếu quy hoạch, không tuân theo quy trình kỹ thuật
tác động tiêu cực tới môi trường nước. Cùng với việc sử dụng nhiều và không
đúng cách các loại hoá chất trong nuôi trồng thuỷ sản làm cho môi trường nước bị
ô nhiễm, làm phát triển một số loài sinh vật gây bệnh và xuất hiện một số tảo độc;
thậm chí đã có dấu hiệu xuất hiện thuỷ triều đỏ ở một số vùng ven biển Việt
Nam.
Ô
nhiễm không khí là sự thay đổi lớn trong thành phần của không khí hoặc có sự xuất
hiện các khí lạ làm cho không khí không sạch, làm giảm tầm nhìn xa, gây biến đổi
khí hậu, gây bệnh cho con người và sinh vật. Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia
có không khí ô nhiễm nhất thế giới, theo một nghiên cứu thường niên về môi trường
do các trường đại học của Mỹ thực hiện và công bố tại Diễn đàn kinh tế thế giới
ở Davos mới đây.
Các
hoạt động chính gây ô nhiễm môi trường không khí ở nước ta gồm có: Công nghiệp,
giao thông vận tải và sinh hoạt.
Mặc
dù đất nước chúng ta nền công nghiệp chưa phát triển nhưng ô nhiễm không khí đã
xảy ra. Nhà máy Khu công nghiệp Thượng Đình, khu
công nghiệp Văn Điển, nhà máy Rượu… không khí đều đã bị ô nhiễm nặng. Ở Hải
Phòng , ô nhiễm nặng ở khu nhà máy Xi măng, nhà máy Thủy Tinh và Sắt tráng men…
Ở Việt Trì, ô nhiễm nặng xung quanh nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao, nhà máy Giấy,
nhà máy Dệt. Ở Ninh Bình và Phả Lại ô nhiễm nặng do nhà máy Nhiệt điện, các nhà
máy vật liệu xây dựng, lò vôi. Hầu như tất cả các nhà máy hóa chất đều gây ô
nhiễm không khí, dân cư sống ở các vùng nói trên thường mắc các bệnh đường hô hấp,
da và mắt.
Ô
nhiễm giao thông hiện nay đang là một trong những tác nhân lớn nhất có ảnh hưởng
đến không khí đô thị. Nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu là phương tiện giao
thông cá nhân như ôtô, xe máy. Thành phố Hà Nội có tỷ lệ sử dụng phương tiện
công cộng thấp nhất châu Á, với 4 triệu phương tiện cá nhân, nguyên nhân chính
của việc thường xuyên tắc đường và sự ô nhiễm nghiêm trọng trong thành phố.
Các
hoạt động sinh hoạt hàng ngày cũng là nguồn gây ô nhiễm, chủ yếu là các hoạt động
đun nấu sử dụng nhiên liệu nhưng đặc biệt gây ô nhiễm cục bộ trong một hộ gia
đình hoặc vài hộ xung quanh. Ngoài ra, hoạt động xây dựng sửa chữa công trình
cùng với đường sá mất vệ sinh cũng trở thành nguyên nhân không nhỏ ảnh hưởng xấu
đến chất lượng không khí đô thị hiện nay.
Tình
trạng ô nhiễm môi trường nêu trên có nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan
khác nhau, song tập trung ở các nguyên nhân chủ yếu sau:
Đầu
tiên, người dân còn tỏ ra thờ ơ thiếu tinh thần hợp tác với Nhà nước trong việc
bảo vệ môi trường mà đặc biệt là các bạn trẻ. Nhiều người nghĩ rằng những việc
mình làm là quá nhỏ bé, không đủ để làm hại môi trường. Một số người khác lại
cho rằng việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của chính quyền mà
không phải là của mình. Số khác lại nghĩ rằng việc ô nhiễm môi trường không ảnh
hưởng gì tới mình nhiều... Việc phá hoại môi trường của một người tuy chỉ ảnh
hưởng nhỏ nhưng tập hợp nhiều người lại là lớn. Trách nhiệm bảo vệ môi trường
tuy cũng có một phần là của nhà nước nhưng đa phần lại là của người dân. Và những
việc chúng ta làm đối với môi trường, tuy hiện giờ ta chưa thấy được, nhưng về
lâu về dài nó sẽ ảnh hưởng tới ta ít nhiều.
Một
nguyên nhân khác gây ra ô nhiễm môi trường chính là sự thiếu trách nhiệm của
các doanh nghiệp. Do đặt nặng mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, không ít doanh
nghiệp đã vi phạm quy trình khai thác, góp phần đáng kể gây ô nhiễm môi trường.
Các chế tài về xử lý hành chính lẫn truy cứu trách nhiệm hình sự của Nhà nước đều
không đủ sức răn đe hành vi vi phạm về môi trường của các doanh nghiệp. Do đó,
tình trạng tái vi phạm, thậm chí với mức độ trầm trọng hơn, thường xuyên diễn
ra.
Những
hạn chế, bất cập của cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường và việc
tổ chức thực hiện của các cơ quan chức năng. Theo thống kê của Bộ Tư pháp, đã
có khoảng 300 văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường được ban hành để điều chỉnh
hành vi của các cá nhân, tổ chức, các hoạt động kinh tế, các quy trình kỹ thuật,
quy trình sử dụng nguyên liệu trong sản xuất. Tuy nhiên, hệ thống các văn bản
này vẫn chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, thiếu chi tiết, tính ổn định không cao,
tình trạng văn bản mới được ban hành chưa lâu đã phải sửa đổi, bổ sung là khá
phổ biến. Từ đó, làm hạn chế hiệu quả điều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức,
các hoạt động kinh tế... trong việc bảo vệ môi trường. Công tác thanh tra, kiểm
tra về môi trường của các cơ quan chức năng đối với các cơ sở sản xuất dường
như vẫn mang tính qua loa, chiếu lệ. Việc tố giác, khiếu nại của người dân địa
phương về các hành vi gây ô nhiễm môi trường chưa được các cơ quan chức năng
coi trọng, thậm chí có hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm, làm ngơ trước những thiệt
hại về sức khoẻ, tài sản của người dân đang phải sinh sống trong môi trường ô
nhiễm. Từ đó, gây bất bình và làm mất lòng tin của người dân vào cơ quan nhà nước.
Chính
sự chưa chặt chẽ trong việc quản lý bảo vệ môi trường của nhà nước cũng đã tiếp
tay cho các hành vi phá hoại môi trường tiếp diễn. Việt Nam thiếu những chính
sách và quy định bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và do đang cần các nguồn vốn đầu
tư để phát triển nên dễ mắc vào "cạm bẫy": trở thành nơi tiếp nhận
nhiều ngành công nghiệp "bẩn". Ví như, ngành cán thép làm tốn nhiều
tài nguyên như đất, nước, năng lượng, thải ra những chất thải nguy hại cho môi
trường. Ngoài ra, lượng xe cô lưu thông ngày càng nhiều ở nước ta cũng góp phần
không nhỏ vào việc gây ô nhiễm bầu không khí. Quyền hạn pháp lý của các tổ chức
bảo vệ môi trường, nhất là của lực lượng cảnh sát môi trường, còn những hạn chế,
bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động nắm tình hình, phát hiện, đấu tranh
ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Công tác tuyên
truyền, giáo dục, đào tạo về môi trường trong xã hội còn hạn chế, dẫn đến chưa
phát huy được tinh thần tự giác, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, cộng đồng
trong việc tham gia gìn giữ và bảo vệ môi trường. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
của đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế; phương
tiện kỹ thuật phục vụ công tác kiểm tra chưa đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.
Do đó, trong nhiều trường hợp, đoàn kiểm tra không thể phát hiện được những thủ
đoạn tinh vi của doanh nghiệp thải các chất gây ô nhiễm ra môi trường.
Hậu
quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỷ lệ người chết do các bệnh liên quan
như viêm màng kết, tiêu chảy ngày càng tăng. Ngoài ra, tỷ lệ trẻ em tử vong tại
các khu vực bị ô nhiễm nguồn nước cũng rất cao. Nhiều người đã trở thành nạn
nhân bất đắc dĩ của nạn ô nhiễm môi trường. Hàng năm có khoảng 16.000 người ở
Việt Nam chết vì những căn bệnh liên quan tới ô nhiễm không khí. Dự báo trong
những năm tới, con số này còn có thể tiếp tục gia tăng. Cạn kiệt tài nguyên
sinh vật là một hậu quả khác không thể tránh được của ô nhiễm môi trường. Các rặng
san hô ở cửa sông cũng như các vùng nước lợ biến mất dần. Hiện tượng thủy triều
đỏ cũng đã xuất hiện ở nước ta từ tháng 6 đến trung tuần tháng 7 âm lịch tại
vùng biển nam trung bộ, đặc biệt là tại Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Hơn
30 km bãi biển từ Cà Ná đến Long Hương nhầy nhụa những bột báng màu xám đen dày
cả tấc, trộn với xác chết của sinh vật tạo nên mùi hôi thối. Khối nhầy trong suốt
bao quanh một số loài vi tảo biển là nguyên nhân làm cho nước biển đặc quánh
như cháo. Ngoài ra, trong tương lai gần, Việt Nam có thể sẽ bị thiếu nước sinh
hoạt trầm trọng do lượng nước sạch bị ô nhiễm ngày một nhiều…
Để
có một sự phát triển bền vững cần phải có một chương trình hành động thống nhất
và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát triển sản xuất với công tác bảo vệ
và kiểm soát môi trường. Nếu không có một chính sách đúng đắn về bảo vệ môi trường,
nền kinh tế sẽ bị thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài.
Chính
vì vậy mà bảo vệ môi trường sinh thái là yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với cả hệ
thống chính trị, các cấp, các ngành chức năng và cộng đồng. Bảo vệ môi trường
là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm
trong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước.
Để ngăn chặn, khắc phục và xử lý có hiệu
quả những hành vi gây ô nhiễm môi trường, tôi
xin đề xuất một số giải pháp sau đây:
Một
là, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường với những chế tài đủ mạnh,
bao gồm cưỡng chế hành chính và xử lý hình sự tuỳ theo mức độ vi phạm, đảm bảo
tính nghiêm minh và đủ sức răn đe. Bên cạnh đó, cần xây dựng đồng bộ hệ thống
quản lý môi trường trong các nhà máy, các khu công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc
tế; đồng thời, tổ chức giám sát chặt chẽ nhằm hướng tới một môi trường tốt đẹp
và thân thiện hơn với con người.
Hai
là, tăng cường công tác nắm tình hình, thanh tra, kiểm tra, giám sát về môi trường
(thường xuyên, định kỳ, đột xuất); phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chuyên
môn, nhất là giữa lực lượng thanh tra môi trường với lực lượng cảnh sát môi trường
các cấp, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời, triệt để những hành vi
gây ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân. Đồng thời, cần nâng cao năng lực
chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách công tác môi trường;
trang bị các phương tiện kỹ thuật hiện đại để phục vụ có hiệu quả hoạt động của
các lực lượng này.
Ba
là, chú trọng công tác quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp, các
làng nghề, các đô thị, đảm bảo tính khoa học cao, trên cơ sở tính toán kỹ lưỡng,
toàn diện các xu thế phát triển, từ đó có chính sách phù hợp. Đối với các khu
công nghiệp, cần bắt buộc các công ty đầu tư hạ tầng phải xây dựng hệ thống thu
gom, xử lý nước thải tập trung hoàn chỉnh mới được phép hoạt động, đồng thời
thường xuyên có báo cáo định kỳ về hoạt động xử lý nước thải, rác thải tại đó.
Bốn
là, chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động
môi trường đối với các dự án đầu tư; trên cơ sở đó, cơ quan chuyên môn tham mưu
chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy
phép đầu tư. Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi
ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài. Thực
hiện công khai, minh bạch các quy hoạch, các dự án đầu tư và tạo điều kiện để mọi
tổ chức và công dân có thể tham gia phản biện xã hội về tác động môi trường của
những quy hoạch và dự án đó.
Năm
là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường trong toàn xã hội nhằm
tạo sự chuyển biến và nâng cao tinh thần chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường,
trách nhiệm xã hội của người dân, doanh nghiệp trong việc gìn giữ và bảo vệ môi
trường; làm cho mọi người nhìn nhận một cách tự giác về vị trí, vai trò, mối
quan hệ mật thiết giữa tự nhiên - con người - xã hội.
Bảo vệ môi trường không chỉ là của
riêng một ai đó, khi làm gì đó hãy nghĩ rằng mỗi việc làm của chúng ta đều tác
động tới môi trường. Nếu đó là tác động tốt thì chúng ta nên tích cực và phấn đấu
nhiều hơn nữa. Còn nếu tác động xấu nhưng ta không thể tránh được thì hãy làm
sao cho tác động đó là tối thiểu, bởi môi trười đó chưa hẳn đã tác động đến
chúng ta mà nó có tác động rất lớn đến con em chúng ta, thế hệ tương lai nói
riêng và con người nói chung.
Môi
trường ô nhiễm là hiểm họa đối với tương lai phát triển của tất tả các quốc gia
trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Tình trạng môi trường ở nước ta
tuy nghiêm trọng nhưng vẫn có thể cứu vãn nếu mỗi người biết góp sức của mình,
chung tay bảo vệ môi trường. Bảo vệ môi trường đã đang và sẽ còn là vấn đề cấp
bách của thời đại, là vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại; là nhiệm vụ
có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với đấu tranh xóa đói giảm nghèo ở mỗi nước, với
cuộc đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Đây là
một vấn đề vô cùng rộng rãi và phức tạp đòi hỏi phải giải quyết, nhanh tróng với
sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và thường xuyên của mọi cá nhân, mọi cộng đồng, mọi
quốc gia và toàn thể nhân loại trong tất cả các hoạt động và lĩnh vực của đời sống
con người. Vì tương lai một Việt Nam xanh, sạch, đẹp và vì cuộc sống của chính
chúng ta cũng như của các thế hệ sau./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét